Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

8 cách phòng ngừa ung thư ở trẻ em

Tại Mỹ, mỗi năm ghi nhận hơn 9000 trẻ em bị ung thư (tức là cứ 450 trẻ có 1 trẻ mắc ung thư). Phổ biến nhất trong các loại ung thư trẻ mắc phải là các bệnh bạch cầu, lymphoma, u não... , tuy nhiên mỗi bệnh lại có nhiều loại khác nhau.

Ung thư thuộc một trong 100 nhóm bệnh gây ra do nguyên nhân các tế bào ác tính trong cơ thể. Ung thư được tách ra thành các loại khác nhau tùy thuộc vào loại tế bào đó có nguồn gốc từ (máu, não, phổi ...), nếu nó xâm chiếm bộ phận cơ thể tạo ra khối u hoặc lây lan đến các cơ quan khác (di căn). Các chuyên gia ung thư trẻ em cho rằng nguyên nhân gây ung thư ở trẻ nhỏ hiện thiên về xu hướng sự kết hợp giữa các yếu tố di truyền và tác động của môi trường. Đó là do gen, những biến đổi di truyền học trong gen của đứa trẻ sinh ra các bệnh ung thư. Tuy nhiên người ta cũng không phủ nhận lối sống và môi trường cũng tác động tới tăng nguy cơ ung thư ở trẻ. Những tác động đó không chỉ là những tiếp xúc của trẻ em trong thời thơ ấu, mà cả những giai đoạn trưởng thành. Điều này một phần do sự giáo dục của cha mẹ, họ có dạy bảo những đứa con của mình phòng tránh những nguy cơ gây ung thư hay không.

Vậy ung thư trẻ em có phòng chống được không và cần phải làm gì để giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư ở trẻ nhỏ:

Khói thuốc lá

Việc đầu tiên cha mẹ có thể làm để bảo vệ sức khỏe của trẻ là không hút thuốc lá và không cho phép bất cứ ai hút thuốc đến gần con em mình. Thực tế, có 4/5 bệnh ung thư có nguyên nhân do thuốc lá, các chất độc trong khói thuốc tác động tới DNA của các tế bào, làm tăng nguy cơ mắc 14 loại ung thư khác nhau như phổi, bệnh bạch cầu, vòm họng, gan, thận ... Nói cách khác, khói thuốc làm tăng nguy cơ ung thư tới 25%.

Khói ở cuối mỗi điếu thuốc còn nguy hiểm hơn bởi nó có gấp 3 lần carbon monoxide (chất độc hại cho tim, phổi và mạch máu), 10 lần chất nitrosamine và hàng trăm lần khói amoniac. Nếu bạn hút thuốc, nguy cơ con của bạn trở thành một người nghiện thuốc tăng gấp 25 lần. Đây chính là lý do bạn nên bỏ thuốc nếu muốn đem lại sức khỏe tốt nhất cho một đứa trẻ.

Ánh nắng

Bảo vệ trẻ khỏi ánh nắng mặt trời là cách để phòng tránh bệnh ung thư da. Sử dụng kem chống nắng là biện pháp hữu hiệu phòng tránh các tia tử ngoại có hại cho da. Vào những ngày nắng nóng, không để trẻ chơi ngoài trời nắng, có ánh nắng mặt trời trực tiếp chiếu vào. Cần đội mũ, đeo kính cho trẻ khi đi ra ngoài nắng.

Mất cân bằng trong chế độ ăn

Một chế độ ăn uống lành mạnh với nhiều chất xơ, trái cây và rau quả là biện pháp tốt nhất để phòng tránh ung thư. Hạn chế cho trẻ ăn các loại thịt chế biến, thịt đỏ nhiều muối. Khi ăn uống lành mạnh sẽ giúp cơ thể bạn loại bỏ các hóa chất độc hại, ngăn ngừa và sửa chữa các tổn thương của DNA, ngăn chặn sự tích tụ của các hóa chất gây ung thư. Các nhà khoa học đã chứng minh chế ăn uống không khoa học có liên quan tới các bệnh như ung thư vú, miệng, thực quản ....

Không tập thể dục

Tập thể dục là một biện pháp giúp ổn định lượng hormone như estrogen và insulin có liên quan đến ung thư. Lối sống năng hoạt động sẽ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú, ruột, và tử cung.

Thừa cân béo phì

Đây là nguyên nhân dẫn tới ung thư vú, thực quản, ruột, ung thư gan, thận, tuyến tụy và ung thư tử cung.... Duy trì trọng lượng cơ thể cân đối, khỏe mạnh làm giảm khả năng các mô mỡ tác động đến sự tăng trưởng của các tế bào, giảm nguy cơ ung thư. Do vậy béo phì thường liên quan tới ung thư.

Tiếp xúc với hóa chất

Các loại hóa chất, thuốc trừ sâu là nguyên nhân trực tiếp gây ra bệnh ung thư trẻ em. Theo một nghiên cứu, nếu trẻ con sớm tiếp xúc với các loại hóa chất, thuốc trừ sâu làm tăng nguy cơ ung thư máu lên 47%. Cha mẹ hoặc người lớn cần mang đồ bảo hộ khi tiếp xúc với hóa chất này, tránh mang những hóa chất này về nhà có trẻ em. Những hóa chất cực kỳ nguy hiểm với sức khỏe của trẻ là asen, benzen, amiăng .... Đây là những hóa chất dùng trong công nghiệp, thường thấy xuất hiện trong những đồ dùng trong nhà như các loại chất tẩy rửa, sơn .... Nên cách ly trẻ với những hóa chất độc hại này.

Đồ uống có cồn

Rượu làm ảnh hưởng đến mức độ hormon, làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư ở người lớn. Nếu cha mẹ sử dụng rượu, đặc biệt thời kỳ mang thai, có nguy cơ con cái họ cũng nghiện rượu sau này. Uống rượu làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú, miệng, vòm họng và đường ruột.

Các bệnh nhiễm trùng

Những loại bệnh nhiễm trùng như viêm gan b, viêm gan C nếu cha mẹ mắc phải, cần phải tiêm phòng đầy đủ cho trẻ ngay từ lúc mới sinh bởi nếu không nguy cơ những đứa trẻ có nguy cơ mắc ung thư gan sau này.

Theo thống kê, virus HPV là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ, hiện đã có vaccin phòng ngừa, trẻ em gái nên được tiêm vaccin phòng bệnh khi 11-12 tuổi. Theo Cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC), vaccin HPV đã giảm 2/3 nguy cơ nhiễm HPV ở trẻ vị thành niên.

Những nguy cơ ung thư ở trẻ em thường khó kiểm soát nhất là khi còn là một bào thai và ở tuổi vị thành niên – lúc cơ thể đang phát triển nhanh và có nhiều thay đổi. Do đó những biện pháp phòng ngừa trên đây sẽ giúp cha mẹ bảo vệ được con em mình khỏi căn bệnh ung thư.

Nguyễn Hoàng Mai

(Theo Outbreaknewstoday)

Tránh ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật, cách gì?

Ngoài các ca ngộ độc cấp thuốc trừ sâu được đưa vào bệnh viện có chẩn đoán rõ ràng, còn số lượng những người bị ảnh hưởng nhẹ hơn hoặc mạn tính thông qua con đường... ăn uống hàng ngày những loại rau củ quả bị nhiễm thuốc trừ sâu là bao nhiêu? Câu trả lời có thể là rất lớn!

Trong nông nghiệp, việc sử dụng các hóa chất trừ sâu, diệt cỏ là cần thiết nhằm bảo vệ mùa màng, tăng năng suất cây trồng. Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc trừ sâu đang được dùng trong nông nghiệp như nhóm thuốc trừ sâu phospho hữu cơ, nhóm thuốc trừ sâu clo hữu cơ, nhóm thuốc trừ sâu loại carbamat, nhóm thuốc trừ sâu pyrethroid, các nhóm thuốc trừ sâu khác như nereistoxin, parathion... Nhiều loại trong số này trên thế giới hiện nay đã cấm dùng do quá nguy hiểm tới sức khỏe con người, ảnh hưởng tới môi trường nhưng ở nước ta vẫn được lén lút sử dụng.

Chăm sóc cho bệnh nhân bị ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật.

Tại sao ngộ độc?

Nguyên nhân của ngộ độc thuốc trừ sâu chủ yếu là do tự tử (khoảng 95%). Số còn lại là do ăn phải rau quả có hàm lượng thuốc tồn dư quá lớn (do rau quả vừa được phun thuốc xong đã được thu hoạch ngay), do uống nhầm, bị đầu độc... Cá biệt cũng có trường hợp ngộ độc cấp do tiếp xúc trực tiếp khi người lao động phun thuốc trừ sâu mà không đảm bảo các qui định về an toàn lao động. Điều đáng lưu ý là những trường hợp ngộ độc cấp do ăn uống, do công tác bảo hộ lao động kém đều chưa có thống kê đầy đủ vì triệu chứng nhẹ dễ bị bỏ qua hoặc bị nhầm với các loại bệnh lý khác. Dần dần, có thể với một lượng thuốc trừ sâu tuy nhỏ nhưng vào cơ thể từ từ, liên tục trong một thời gian dài sẽ gây ngộ độc mạn hoặc những hệ lụy tệ hơn cho cơ thể. Ngộ độc cấp nặng có thể chỉ ảnh hưởng đến một số ít người “chán sống” nhưng ngộ độc mạn thì có thể ảnh hưởng đến toàn xã hội!

Những biểu hiện muôn hình vạn trạng khi bị ngộ độc

Biểu hiện của ngộ độc thuốc trừ sâu rất phong phú và đa dạng. Các biểu hiện này phụ thuộc liều lượng, thời gian thuốc vào cơ thể, phụ thuộc chủng loại thuốc, độc tính của thuốc với con người mạnh hay yếu. Các triệu chứng thường xuất hiện nhanh 10 - 20 phút sau khi bị nhiễm độc qua đường tiêu hóa. Biểu hiện của nhóm thuốc trừ sâu loại phospho hữu cơ chủ yếu là các triệu chứng thích hệ thần kinh phó giao cảm, gây co đồng tử (có khi co nhỏ như đầu đinh), tăng tiết (vã mồ hôi, nhiều nước bọt), tăng co bóp ruột: đau bụng, nôn mửa, co thắt phế quản: tím tái, phù phổi, có thể liệt hô hấp, tụt huyết áp, giật cơ, co cơ, rối loạn phối hợp vận động, hoa mắt, chóng mặt, run, nói khó, nhìn lóa, nặng thì hôn mê. Các biểu hiện ngộ độc cấp thuốc trừ sâu loại carbamat tương tự như ngộ độc phospho hữu cơ nhưng mức độ nhẹ hơn. Ngộ độc thuốc trừ sâu loại clo hữu cơ thường có đau bụng, nôn mửa, co giật, liệt cơ hô hấp. Ngộ độc thuốc trừ sâu loại pyrethroid cũng có các biểu hiện về đường tiêu hóa (nếu ngộ độc qua đường tiêu hóa) và các biểu hiện thần kinh như đau đầu, co giật, hôn mê nếu ngộ độc nặng. Ngộ độc nereistoxin có triệu chứng rất nặng nề về đường tiêu hoá: đau bụng, nôn, tiêu chảy, có thể nôn ra máu và tiêu ra máu dữ dội dẫn đến truỵ mạch, tụt huyết áp (sốc giảm thể tích), tim mạch: tụt huyết áp: thường sớm và nặng nề do phối hợp cả giảm thể tích tuần hoàn, giãn mạch và nhiễm toan. Có thể thấy rối loạn nhịp tim (nhịp nhanh xoang, rung thất, xoắn đỉnh), suy tim, phù phổi cấp, hô hấp: tình trạng nhiễm toan thở nhanh sâu, suy hô hấp, liệt cơ, sặc phổi, thần kinh: co giật giống kiểu động kinh, sau đó là liệt cơ, hôn mê. Tuy nhiên, các biểu hiện nói trên có thể không điển hình ở những thể ngộ độc cấp nhẹ hoặc ngộ độc mạn tính: người bệnh chỉ thấy mệt mỏi, đau đầu, giảm trí nhớ, mất tập trung, ăn uống kém, mất ngủ... và dễ bị quy cho là suy nhược cơ thể, trầm cảm...

Phun thuốc trừ sâu không đảm bảo các qui định về an toàn lao động, có trường hợp người lao động bị ngộ độc cấp.

Tránh ngộ độc thuốc trừ sâu thế nào?

Ngộ độc thuốc trừ sâu cấp và mạn hoàn toàn có thể phòng tránh được bằng các biện pháp như tuyên truyền giáo dục cho mọi người, nhất là bà con nông dân, những người thường xuyên phải sử dụng thuốc trừ sâu về độc tính của thuốc và các biểu hiện của ngộ độc thuốc. Hướng dẫn cho bà con biết về thời gian thu hoạch rau quả an toàn sau khi phun thuốc. Giải quyết tốt các nguyên nhân dẫn đến bệnh nhân tự tử bằng thuốc trừ sâu, đặc biệt là các liệu pháp điều trị tâm lý cho bệnh nhân (ngộ độc do uống thuốc trừ sâu tự tử) sau khi xuất viện, tái hòa nhập cộng đồng. Thêm nữa, cũng phải kể đến các biện pháp thuộc về các cơ quan chức năng như tăng cường quản lý các hóa chất trừ sâu, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên để các loại rau quả, thực phẩm còn tồn dư lượng thuốc trừ sâu không được đưa ra thị trường. Xử phạt thật nghiêm những cá nhân, tập thể vì lợi nhuận mà vi phạm các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm...

TS.BS. Vũ Đức Định

Quả mâm xôi giúp dự phòng các bệnh lý tim mạch

Ngoài ra bổ sung trái cây vào chế độ ăn uống hàng ngày còn giảm nguy cơ mắc một số bệnh, đặc biệt quả mâm xôi, giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch.

Các nhà nghiên cứu của Đại học Hàn Quốc cho thấy việc bổ sung thêm các chất chiết (nước ép) của quả mâm xôi đen có thể làm giảm các triệu chứng của hội chứng chuyển hóa (rối loạn liên quan đến ít nhất ba dấu hiệu: béo bụng, cao huyết áp, xơ vữa động mạch, kháng insulin hoặc không dung nạp glucose ...) và vì vậy làm giảm nguy cơ các bệnh lý tim mạch.

Công trình nghiên cứu đăng trên Tạp chí “Journal of Medicinal Food”. Họ tiến hành so sánh dấu hiệu của hội chứng chuyển hóa của hai nhóm tình nguyện viên trong hai tuần. Một nhóm dùng hàng ngày 750 mg dịch chiết của quả mâm xôi, nhóm còn lại dùng placebo (giả dược).

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm dùng bổ sung thêm quả mâm xôi có trị số huyết áp giảm, thành động mạch mềm mại hơn và những tế bào giúp sửa chữa những động mạch bị tổn thương lưu thông nhiều, tốt hơn trong cơ thể.

Quả mâm xôi rất giàu flavonoid và chất chống oxy hóa. Dâu tây, mâm xôi, nho và quả việt quất…là những loại trái cây giàu flavonoid. Quả mâm xôi đặc biệt quả mâm xôi đen giúp dự phòng các bệnh lý tim mạch. Quả mâm xôi rất giàu vitamin C, ngoài ra rất giàu chất sắt (0,7 mg mỗi 100 g). Quả mâm xôi là nguồn cung cấp tuyệt vời các khoáng chất: kali, magiê, canxi. Hàm lượng chất xơ cao là phương thuốc “thiên nhiên” rất hiệu quả giúp tăng nhu động ruột.

Ngoài ra, khoa học cũng đã chứng minh cho thấy quả mâm xôi có tác dụng dự phòng ung thư, tác dụng chống viêm, dự phòng nguy cơ các bệnh lý tim mạch, các rối loạn chuyển hóa….

Bs Ái Thủy

(Theo TopSante)

Các loại bệnh trầm cảm thường gặp

Đặc điểm và nguyên nhân trầm cảm

Thời gian gần đây, số người bị bệnh trầm cảm ngày càng có xu hướng gia tăng. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây nên như: bị sang chấn tâm lý mạnh gọi là sốc xúc cảm hoặc căng thẳng tâm lý gọi là stress tuy không mạnh nhưng kéo dài. Sang chấn tâm lý thường hay gặp nhất, yếu tố tâm lý quan trọng đến mức có thể tạo cơ sở để tách ra thành một thể bệnh riêng gọi là trầm cảm phản ứng; sốc xúc cảm cũng do hiện tượng quá vui hoặc quá sung sướng tạo nên các cơn trầm cảm. Các yếu tố tâm lý xã hội, các trường hợp khó thích nghi với môi trường khác lạ, có hoàn cảnh sống cô đơn, sống biệt lập với người thân; các yếu tố nội sinh trong các bệnh loạn thần hưng trầm cảm, tâm thần phân liệt, trầm cảm thoái triển... đều có thể gây nên hiện tượng trầm cảm. Đồng thời, thể tạng người có loại hình sinh học kiểu người mập mạp có liên quan đến trầm cảm chu kỳ; yếu tố di truyền cũng có tác động ảnh hưởng lớn đến một số thể bệnh trầm cảm. Bệnh trầm cảm có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở độ tuổi trên 50. Ngoài ra, trạng thái trầm cảm còn là biểu hiện triệu chứng của nhiều bệnh ở não như: nhiễm khuẩn trong sọ não, liệt toàn thể tiến triển, chấn thương sọ não, xơ mạch máu não...; các bệnh toàn thân làm thay đổi sinh lý hay làm suy nhược cơ thể gồm lao, ung thư, bệnh về máu, rối loạn nội tiết, nhiễm độc, tự nhiễm độc... và một số trường hợp không rõ nguyên nhân.

Ảnh minh họa

Các loại trầm cảm thường gặp

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh trầm cảm thường có nhiều loại khác nhau như: trầm cảm nặng, trầm cảm nhẹ, trầm cảm xuất hiện từng giai đoạn, trầm cảm tái diễn, trầm cảm nặng và tái diễn, trầm cảm mức độ nhẹ liên tục, trầm cảm di chứng của rối loạn khí sắc trầm cảm, rối loạn phân liệt cảm xúc.

Trầm cảm nặng: xuất hiện đơn độc, suốt đời chỉ có một cơn, trước đây loại trầm cảm này được gọi là hiện tượng trầm uất, trầm cảm kích động, có biểu hiện như đặc điểm trầm cảm đã nêu ở trên. Bệnh lý trầm cảm kéo dài trên 2 tuần, gây sự đau buồn, trở ngại đối với hoạt động hàng ngày.

Trầm cảm nhẹ: xuất hiện đơn độc, khác với trầm cảm nặng xuất hiện đơn độc về mức độ, không gây nên sự đau buồn và trở ngại đối với hoạt động hàng ngày, thường kéo dài ít nhất 2 tuần; không có hiện tượng hoang tưởng, ảo giác.

Trầm cảm xuất hiện từng giai đoạn: tái diễn nhiều đợt và có thể xen kẽ với giai đoạn hưng cảm. Giữa các giai đoạn trầm cảm và hưng cảm là thời kỳ khí sắc bình ổn hoàn toàn. Loại trầm cảm này còn được gọi là bệnh loạn thần hưng trầm cảm. Tỉ lệ mắc bệnh ở nam nữ gần như nhau, sau tuổi trung niên thì giai đoạn trầm cảm thường xuất hiện nhiều hơn giai đoạn hưng cảm và kéo dài hơn.

Trầm cảm tái diễn: biểu hiện giống như loại trầm cảm nặng và trầm cảm nhẹ đã nêu trên nhưng không xuất hiện đơn độc mà tái diễn nhiều đợt trong đời người. Giai đoạn trầm cảm kéo dài từ 3 - 12 tháng, trung bình 6 tháng. Bệnh thường khởi phát chậm, thường gặp ở độ tuổi từ 50. Phần lớn bệnh được phục hồi hoàn toàn và tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm loại này ở nữ ghi nhận gấp đôi nam.

Trầm cảm nặng và tái diễn: gần giống như các bệnh trước kia gọi là trầm cảm, trầm uất, loạn thần hưng trầm cảm, trầm cảm sinh thể, trầm cảm nội sinh. Trong đời, con người ít nhất thường có hai giai đoạn trầm cảm nặng hay nhẹ tái diễn, mỗi giai đoạn thường kéo dài trên 2 tuần, giữa hai giai đoạn trầm cảm phải có một thời kỳ lành bệnh ít nhất 6 tháng.

Trầm cảm mức độ nhẹ: liên tục biểu hiện, đơn độc nhưng kéo dài, có khi gần hết tuổi thanh niên, gây nên sự đau buồn và trở ngại cho sinh hoạt lao động, làm việc và học tập của người bệnh. Bệnh có thể nặng lên và tiến triển như rối loạn trầm cảm tái diễn hay xen kẽ với các giai đoạn hưng cảm. Nếu các giai đoạn trầm cảm và hưng cảm xen kẽ nhau được gọi là khí sắc tuần hoàn; nếu mức độ khí sắc trầm, nhẹ, kéo dài thì gọi là loạn khí sắc.

Trầm cảm di chứng của các rối loạn khí sắc trầm cảm: biểu hiện đơn độc hoặc tái diễn nhưng mức độ nhẹ, không kéo dài gồm các trạng thái hỗn hợp trầm cảm và hưng cảm, trầm cảm ẩn, rối loạn xúc cảm khác không liên quan đến nghiện rượu, nghiện ma túy, rối loạn nội tiết hay rối loạn tâm thần thực tổn.

Phân liệt cảm xúc: biểu hiện các triệu chứng phân liệt và triệu chứng cảm xúc xuất hiện đồng thời, nổi bật như nhau; lưu ý thể trầm cảm xuất hiện sau cơn loạn thần cấp tính của bệnh tâm thần phân liệt không xếp vào loại trầm cảm này. Các triệu chứng trầm cảm biểu hiện như đã nêu ở trên. Các triệu chứng phân liệt ở bệnh nhân biểu hiện ý nghĩ vang lên thành tiếng nói ở trong đầu, bị những lực lượng xa lạ nào đó điều khiển, mưu hại; nghe thấy những tiếng nói gièm pha, buộc tội mà thực tế không có... Phần lớn bệnh nhân được phục hồi hoàn toàn sau điều trị, một số ít trường hợp tiến triển thành thiếu sót phân liệt như thờ ơ với ngoại cảnh, có hành vi kỳ dị...

Các thể lâm sàng của trầm cảm

Theo các nhà khoa học, rối loạn trầm cảm là hiện tượng xảy ra rất phúc tạp và rất đa dạng. Các thể lâm sàng trầm cảm thường gặp là: trầm cảm nội sinh, trầm cảm tâm sinh, trầm cảm triệu chứng.

Trầm cảm nội sinh: thể trầm cảm này có thời kỳ đầu tiến triển từ vài tuần đến vài tháng với các hiện tượng mất ngủ, mệt mỏi, giảm khí sắc, lo lắng đến sức khỏe và tương lai; thời kỳ toàn phát có 3 triệu chứng đặc trưng là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy và ức chế vận động. Trầm cảm nội sinh có đặc điểm là biểu biện nặng lên vào buổi sáng và nhẹ đi về buổi tối, tiến triển thường xuất hiện từng giai đoạn, giữa các giai đoạn khí sắc bình ổn hoàn toàn, không làm biến đổi nhân cách và không đi đến sa sút tâm thần. Ngoài thể lâm sàng điển hình đã nêu trên, còn có các thể lâm sàng không điển hình được ghi nhận như: trầm cảm sững sờ, trầm cảm kích động, trầm cảm nghi bệnh, trầm cảm ám ảnh, trầm cảm hoang tưởng, trầm cảm ẩn, trầm cảm ở trẻ em...

Trầm cảm tâm sinh: đây là thể trầm cảm có trạng thái phản ứng của một nhân cách yếu đối với một môi trường sống không thuận lợi. Đặc điểm biểu hiện lâm sàng không sâu sắc như trầm cảm nội sinh, bệnh nhân ít có ý tưởng bị buộc tội, chúng mang sắc thái loạn cảm như cơn khóc, cơn than vãn về nỗi khó khăn, nỗi bất hạnh, cho rằng mình là nạn nhân. Thể trầm cảm này gồm 2 nhóm chính không đồng nhất là trầm cảm phản ứng và trầm cảm tâm căn. Trầm cảm phản ứng là một thể của loạn thần phản ứng với một hoạt động tâm thần có thể làm rối loạn đến mức mất tính toàn vẹn, tính thống nhất; có những rối loạn về hoạt động nhận thức, ý thức, tiếp xúc, hành vi. Trầm cảm tâm căn có triệu chứng của bệnh tâm căn như khí sắc trầm, giảm hứng thú, dễ cảm động; lo lắng về bệnh tật, về những điều không may có thể xảy ra.

Trầm cảm triệu chứng: có đặc điểm lâm sàng từ nhẹ đến nặng, chúng tồn tại trong một giai đoạn hay kéo dài trong quá trình bệnh tiến triển. Trầm cảm diễn biến tùy theo sự tiến triển của bệnh chính, cường độ của tác nhân gây hại và sức phản ứng của cơ thể. Các hội chứng có thể gặp là hội chứng trầm cảm paranoid và hội chứng trầm cảm không điển hình. Hội chứng trầm cảm paranoid có các triệu chứng buồn rầu, sợ hãi, kích động, lo âu, ảo tưởng lời nói, hoang tưởng bị tội; có thể kèm theo rối loạn ý thức, mê sảng, lú lẫn, kích động giống động kinh và thường tăng lên về đêm. Hội chứng trầm cảm không điển hình có các triệu chứng kích động lo âu như than khóc kèm theo các ý tưởng nghi bệnh, loạn cảm giác bản thể như khó chịu ở những vùng khác nhau. Trầm cảm triệu chứng có thể gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn như bệnh cúm, các bệnh thực tổn của não như xơ vữa động mạch não, các bệnh nội tiết như bệnh Cushing và ngay trong cả quá trình điều trị với loại thuốc steroide.

Phòng bệnhNhư vậy rối loạn trầm cảm trên thực tế có nhiều loại khác nhau khá phong phú và đa dạng; chính ngay cả bản thân người bệnh và người thân có thể không biết hoặc không để ý đến. Dù mắc loại bệnh trầm cảm nào nhưng trong cơn trầm cảm bột phát sẽ dẫn đến một hệ lụy khá tồi tệ là bệnh nhân có thể có hành vi tự sát hoặc giết chết người thân rồi tự sát. Vì vậy, việc phòng bệnh trầm cảm là một vấn đề quan trọng cần được lưu ý hiện nay do bệnh ngày càng có xu hướng phát triển trong xã hội hiện đại. Phòng bệnh rối loạn trầm cảm chủ yếu là chú trọng đến việc giáo dục nhân cách trẻ em từ khi còn nhỏ để sau này lớn lên có được các phẩm chất hòa nhập dễ dàng với cuộc sống, nghề nghiệp xã hội; đồng thời có khả năng thích ứng linh hoạt với những hoàn cảnh bất lợi luôn luôn có thể xảy ra. Cần tổ chức lao động, làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý; tránh tình trạng căng thẳng về cảm xúc và các sang chấn tâm lý; phát hiện và điều trị sớm các bệnh của cơ thể. Ngoài ra, khuyến khích thực hiện cuộc sống với mẫu gia đình có cả ba thế hệ cùng sinh sống. Cần quan tâm chăm sóc trẻ mồ côi, người có hoàn cảnh khó khăn; đặc biệt là người tàn tật và người già cô đơn không nơi nương tựa…

Mẫu gia đình có cả ba thế hệ cùng sinh sống giúp phòng bệnh trầm cảm

BS. NGUYỄN VÕ HINH

Ngủ ngáy ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ

Theo nghiên cứu đăng trên Tạp chí Y học "The Journal of Laryngology & Otology" thì ngáy là một rối loạn giấc ngủ và có thể gây nên nhiều hậu quả khác. Kèm với những vấn đề hô hấp trong khi ngủ thì ngủ ngáy khiến trẻ có những khó khăn trong việc tập trung và học tập.

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Göteborg- Thụy Điển đã theo dõi 1320 trẻ em dựa trên dữ liệu y tế quốc gia về trẻ em ở Thụy Điển để xác định ngủ ngáy do đâu và ảnh hưởng đến sức khỏe, việc học của trẻ như thế nào ?

Thông qua việc trả lời câu hỏi của bố mẹ các cháu, bác sĩ điều trị, các nhà nghiên cứu đã phân tích những rối loạn hô hấp và rối loạn giấc ngủ ở trẻ.

Kết quả cho thấy rằng có 4,8% trẻ em có những rối loạn hô hấp trong khi ngủ và ngáy ngủ dai dẳng chủ yếu là do viêm amiđan, viêm, viêm vòm họng.

Ngu-ngay-anh-huong-toi-kha-nang-hoc-tap-cua-tre

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều phụ huynh không nhận thức được những rủi ro liên quan với chứng ngáy ngủ thường xuyên ở trẻ em.

Các nhà khoa học cũng nhận thấy rằng những trẻ em bị ngủ ngáy dai dẳng thường có chất lượng cuộc sống giảm đáng kể và có những khó khăn trong việc tập trung và học hành, nhưng chỉ có khoảng một phần ba số trẻ em ngáy ngủ đã tìm sự giúp đỡ của bác sĩ !

Ngủ ngáy hay còn gọi là ngáy khi ngủ, là triệu chứng xảy ra trong lúc ngủ: vùng họng sau bị hẹp lại. Khi người ngủ hít thở, một lượng khí vào, nhưng do đi qua một vùng hẹp hơn làm các niêm mạc mô xung quanh rung lên tạo nên một loại âm thanh mà người ta gọi đó là ngáy. Vùng hẹp đó có thể ở vùng mũi, miệng hoặc là họng. Những âm thanh này thường gây khó chịu cho những người xung quanh, tuy nhiên người ngủ ngáy lại thường không nghe và biết việc đó.

Tóm lại, giấc ngủ không chỉ tốt cho sức khỏe thể chất mà còn cho sức khỏe tinh thần. Bên cạnh đó nếu trẻ có những giấc ngủ ngon còn giúp cho trẻ giữ được thân hình cân đối, một cân nặng ổn định và trên hết đó là có kết quả học tập tốt hơn, một trí nhớ tốt hơn !!

Bs Ái Thủy

(theo Top Sante)

10 thực phẩm dễ tiêu hóa nhất bạn nên ăn dịp lễ Tết

Vào những dịp lễ Tết, hầu hết các gia đình đều chuẩn bị thật nhiều đồ ăn và thức uống ngon để thưởng thức trong dịp sum họp gia đình, gặp gỡ bạn bè, khách khứa. Và chắc chắn cơ thể của bạn sẽ bị quá tải với các loại đồ ăn thức uống khiến bạn luôn cảm thấy khó chịu, đầy bụng.

Để không gặp phải tình trạng này, bạn cần ghi nhớ ngay cho mình 10 thực phẩm sau đây sẽ giúp bạn tiêu hóa tốt hơn trong dịp nghỉ lễ Tết:

1. Gạo lứt

Gạo lứt chứa chất glytation chống nhiễm xạ và giúp tiêu hóa tốt. Ngoài ra, nó còn chứa chất a-xít phitin có vai trò đào thải các chất độc qua ruột. Tuy nhiên, do gạo lứt có chứa nhiều chất xơ nên ăn nhiều có thể gây cồn cào ruột gan. Do đó bạn nên ăn một lượng vừa đủ sẽ rất tốt cho cơ thể.

2. Nước cam ép

Nếu bạn tiêu thụ nước ép cam hàng ngày, bạn sẽ loại bỏ được nguy cơ táo bón và đặc biệt nó giúp làm sạch đường tiêu hóa. Ngoài ra, nước cam ép còn có tác dụng hạn chế chất độc thải tích tụ rất tốt cho hệ tiêu hóa. Do đó, trong những ngày Tết bạn đừng quên thưởng thức loại nước uống này.

3. Sữa chua

Sữa chua là thực phẩm tốt cho tiêu hóa, nhất là khuẩn lactic trong sữa chua cũng sẽ tăng cường sự dẻo dai cho đường ruột. Đối với những người mắc các bệnh đường ruột như đau dạ dày, đầy hơi, tiêu chảy hay táo bón có thể giảm bớt sự khó chịu bằng cách bổ sung vào khẩu phần ăn 1 - 2 hộp sữa chua mỗi ngày, vừa tốt cho da lại vừa bổ dưỡng cho sức khỏe.

4. Quả mận khô

Nếu bạn là tín đồ ăn vặt trong ngày Tết, hãy tích cực thưởng thức đồ ăn này, vừa hấp dẫn vừa tốt cho tiêu hóa của bạn. Trong mận khô có chứa chất xơ và chất oxy hoá giúp cho hệ tiêu hoá hoạt động một cách bình thường, giảm cholesterol và lượng đường trong máu và giảm nguy cơ ung thư ruột kết.

5. Nước ép mâm xôi

Uống nước ép mâm xôi thường xuyên sẽ giúp bạn cải thiện hệ tiêu hóa và làm dịu niêm mạc dạ dày, có tác dụng giảm sự khó chịu bạn thường phải chịu ở bộ phận này bằng các cân bằng các loại axít có trong dạ dày.

6. Đu đủ

Đu đủ là một trong những thực phẩm tốt cho hệ tiêu hóa. Trong đu đủ có chứa một loại enzyme tiêu hóa có tên gọi là papain. Loại enzyme này có chức năng phá vỡ thức ăn và tiêu hóa hết protein, giúp giải phóng khí cùng hơi trong bụng. Sau đó, thức ăn được chuyển hóa hết và sẽ không gây đầy bụng. Vì vậy đừng quên nạp loại trái cây này trong ngày Tết.

7. Quả bơ

Quả bơ nổi tiếng là trái cây có hương vị ngon lành và nhiều lợi ích đối với sức khỏe. Bơ giúp bạn chữa các bệnh liên quan đến dạ dày. Trái cây này có tác dụng tiêu hóa các enzyme, tiêu hóa thức ăn, phá vỡ chất béo, từ đó giúp bạn chống lại bệnh đau dạ dày.

8. Nước chanh nóng

Nếu bạn biết trước mình thường gặp triệu chứng khó tiêu vào những ngày Tết, bạn có thể chuẩn bị đồ uống này trước tham gia bất cứ cuộc vui ăn uống nào. Bạn hãy pha một thìa nước cốt canh vào ly nước ấm, uống trước bữa ăn sẽ ngăn ngừa chứng đầy bụng bởi vì chanh hỗ trợ thêm a-xít cho dạ dày. Bên cạnh đó, chanh còn giúp chống lại vi khuẩn trong thức ăn.

9. Chuối

Sẽ thật là lãng phí nếu bạn bỏ quả những quả chuối chín, loại quả thường xuyên được sử dụng trong ngày lễ Tết. Bởi vì chuối có khả năng chống rối loạn đường ruột hữu hiệu. Ngoài ra, nó cũng tốt cho những người bị loét đường ruột mạn tính hay làm giảm kích thích lớp màng dạ dày. Không chỉ vậy, chuối còn chữa bệnh ợ nóng nhờ vào công dụng giúp giảm độ a-xít của nó.

10. Khoai lang

Đây là một nguồn chất xơ dồi dào giữ cho đường tiêu hóa của bạn luôn khỏe mạnh và giúp bạn tránh tình trạng đầy hơi, khó chịu những những ngày lễ Tết kéo dài. Ngoài việc cung cấp carbohydrates có lợi cho sức khỏe lang cũng có nhiều vitamin B6, mangan, vitamin C rất tốt cho cơ thể.

Hồng Nam

(Ảnh minh họa: Internet)

Thêm bằng chứng vi

Bất thường não nghiêm trọng có thể được phát hiện thông qua các xét nghiệm hình ảnh thần kinh ở giai đoạn sớm, thậm chí ngay trước khi có sự vôi hóa nội sọ và tật đầu nhỏ trước đây đã được liên hệ với nhiễm vi-rút Zika. Quan sát này dựa trên trường hợp một phụ nữ bị nhiễm vi-rút khi đến Trung Mỹ vào tuần thứ 11 của thai kỳ. Đây là nghiên cứu đầu tiên báo cáo phân lập vi rút Zika gây nhiễm từ mô thai nhi trên nuôi cấy tế bào.

Vi-rút được phân lập từ mô não của thai nhi trong một dòng tế bào đại diện cho tiền thân tế bào thần kinh.

Các nhà nghiên cứu đã lập bản đồ toàn bộ bộ gen của vi-rút và phát hiện tám đột biến phân biệt vi-rút này với các chủng Zika được báo cáo trước đây ở Trung Mỹ. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng một số đột biến có thể liên quan với sự thích nghi của vi-rút với não của thai nhi. Nghiên cứu cũng giúp khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa vi-rút Zika và tổn thương nghiêm trọng hệ thần kinh trung ương của thai nhi. Vi-rút phân lập từ não của thai nhi này cũng có thể sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu vi-rút Zika thử nghiệm. Nghiên cứu này được công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine

BS Cẩm Tú

(Theo THS/ Univadis)

Dụng cụ sưởi ấm trong giá rét: “Lạnh người” vì... sưởi ấm

Trời rét đậm rét hại, nhiều người dân tận dụng đủ các phương cách khác nhau nhằm chống rét. Tuy nhiên, những vụ tai nạn từ sưởi ấm gần đây liên tục xảy ra, gây hậu quả vô cùng đáng tiếc. Thậm chí cả những thiết bị sưởi ấm phổ biến trong các gia đình, nhưng do chủ quan hoặc sử dụng thiếu hiểu biết nên đã không đem lại sức khỏe và an toàn cho người sử dụng. Cẩn thận và nắm rõ ưu nhược điểm của các thiết bị để chống rét an toàn không bao giờ là thừa...

“Hung thần”... lò sưởi than

Thông tin từ Khoa Hồi sức tích cực chống độc (BV đa khoa tỉnh Nghệ An) cho biết, chỉ trong 3 ngày bệnh viện tiếp nhận 7 bệnh nhân ngộ độc ngạt khí than, trong đó có 3 sản phụ mới sinh con đến từ các huyện Nam Đàn, Thanh Chương và thị xã Cửa Lò.

Khi đốt than, củi sưởi ấm, cần mở cửa thông thoáng và có người lớn canh chừng.

Sáng 26/1, BVĐK Nghệ An cấp cứu 4 nạn nhân trong một gia đình bị ngộ độc khí carbon monoxide (CO) trong tình trạng nguy kịch do đốt than sưởi trong phòng kín, còn một cháu bé 18 tháng tuổi đã tử vong. 5 nạn nhân trong vụ ngộ độc than này đều trú tại thị trấn Nam Đàn (huyện Nam Đàn, Nghệ An) là các thành viên trong một gia đình, gồm chị Nguyễn Thị Nga (20 tuổi), bà Nguyễn Thị Tiến (40 tuổi, mẹ ruột chị Nga), chị Đậu Thị Hạnh (17 tuổi, em chồng chị Nga) và hai cháu bé: bé gái 18 tháng tuổi và bé trai 1 ngày tuổi con chị Nga. Nguyên do người nhà đốt than củi để xông và sưởi ấm cho sản phụ trong khi diện tích phòng kín chỉ khoảng 15m2, khí độc từ lò than đã khiến cả 5 người ngủ trong phòng bị mê man, bất tỉnh. Đến hôm nay, sau 3 ngày nhập viện điều trị, được các y bác sĩ nỗ lực cứu chữa, các bệnh nhân điều trị tại BV đa khoa Nghệ An sức khỏe tiến triển tốt hơn. Riêng bé gái 18 tháng tuổi đã tử vong do ngộ độc khí.

Đêm 25/1, sản phụ P.T.G. (24 tuổi, ở thị xã Cửa Lò) vừa sinh con một tuần tuổi cũng phải nhập viện vì sưởi ấm bằng than trong phòng đóng kín. Người nhà nạn nhân cho biết buổi tối gia đình đốt than củi sưởi ấm hai mẹ con trong phòng kín, chỉ khoảng 3 giờ đồng hồ thì phát hiện sản phụ co giật, phải chuyển cấp cứu. Rất may cấp cứu kịp thời nên hiện sản phụ đã hồi sức trở lại, cháu bé cũng an toàn.

Cách đó hơn một tháng, tháng 12/2015, vợ chồng anh Nguyễn Văn Hùng (20 tuổi) và Lê Thị Thúy Kiều (19 tuổi, cùng trú thôn Thạnh Mỹ, xã Điện Quang, Quảng Nam) đốt lò than đặt dưới gầm giường sưởi ấm cho con trai là Nguyễn Văn Huy (1 tuổi). Trưa hôm sau, mẹ anh Hùng đi làm về thấy cửa phòng hai vợ chồng con trai đóng kín mít, gọi không thấy ai trả lời, bà phá cửa vào thì phát hiện cháu Huy đã tử vong; hai vợ chồng con trai bất tỉnh nên đưa đi cấp cứu.

Thực tế, việc nhập viện do dùng than sưởi ấm mùa đông không phải là hiếm. Theo thống kê của Trung tâm Chống độc BV Bạch Mai, mỗi năm Trung tâm tiếp nhận cấp cứu 10-20 bệnh nhân ngộ độc do hít phải khí than. Đó là chưa kể nhiều vụ khác được cấp cứu tại các bệnh viện tỉnh. Bên cạnh những ca tử vong, có không ít người không thể trở lại bình thường do não bị ảnh hưởng, thậm chí có người còn sống thực vật.

Một nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy, đối với khu vực nội thành, 70% gia đình sử dụng gas, điện và số còn lại dùng bếp than tổ ong để đun nấu sinh hoạt. Còn ở ngoại thành và các tỉnh khác, tỷ lệ này ngược lại là 30% dùng gas, điện và 70% dùng than củi. Nhiều gia đình đã chủ quan dùng luôn bếp lò làm dụng cụ sưởi ấm nên gây họa.

Sử dụng phải biết cách

Hiện nay, ngoài chăn điện, túi sưởi sử dụng khi đi ngủ, nhiều gia đình chọn giải pháp làm ấm không khí cả phòng bằng máy điều hòa, máy sưởi Halogen, quạt sưởi dùng dây mayso...

Gần đây, một số gia đình sử dụng túi sưởi cắm điện. Cũng như bất kỳ loại đồ điện nào, túi sưởi có thể gây họa lớn cho người sử dụng nếu thiếu cẩn thận. Mới đây một bé gái 8 tuổi ở Tuyên Quang đã bị bỏng nặng do vỡ túi sưởi trong khi đang cắm điện. Kỹ sư Nguyễn Huy Bạo, nguyên cán bộ Viện Kỹ thuật Quân sự cho biết, một nguyên tắc khi dùng túi sưởi là không sử dụng túi khi đang cắm điện. Khi cắm điện cũng không được ngồi gần, nên để túi cách xa người tối thiểu 2m. Cần kiểm tra túi trước khi cắm xem có rách mép hay rò rỉ nước hay không.

PGS. Nguyễn Đức Lợi, Viện Nhiệt lạnh, Đại học Bách khoa (Hà Nội) khuyến cáo, ví dụ các loại chăn điện, đệm gối điện có ưu điểm là đưa hơi ấm trực tiếp đến cơ thể chứ không cần phải làm nóng cả không gian phòng nên tiết kiệm điện. Tuy nhiên, sử dụng lại phải rất cẩn thận vì dây may so được bố trí trực tiếp ngay trong chăn, đệm, gối nên rất dễ bị hư hỏng, đứt gãy khi bị gập lại, đặc biệt là chăn vì diện tích rất rộng và phải chịu tác động trực tiếp lực từ cơ thể con người.

Ngoài ra còn có các loại máy sưởi dầu, sử dụng điện để làm nóng dầu chứa trong các thanh sưởi. Loại này thường ít đốt ôxy và tương đối an toàn. Máy sưởi đèn Halogen: an toàn, sinh nhiệt bằng cách đốt cháy ion, phát nóng giống nguyên lý đèn nê-ông. Các loại máy sưởi bức xạ hồng ngoại (quạt sưởi, đèn sưởi, lò sưởi dùng dây may so trực tiếp...) luôn luôn tiềm tàng nguy cơ gây cháy cao. Do đó, phải đặt chúng ở xa ít nhất khoảng 1-2m tùy từng loại. Đây cũng là loại máy sưởi gây khô da, làm da nứt nẻ khó chịu vì tia hồng ngoại mang nhiệt tác động trực tiếp lên bề mặt da.

Riêng về bếp than, củi, đốt gas... đều có nguy cơ rất cao là thiếu ôxy trong phòng, có thể nhiễm độc khí CO, đặc biệt khi sưởi mùa đông người ta thường đóng kín cửa. PGS. Nguyễn Ngọc Tuấn, Chủ nhiệm Khoa Bỏng trẻ em, Viện Bỏng cho biết, trong trường hợp nhất thiết phải đốt than, củi sưởi ấm thì tuyệt đối không được đốt trong phòng kín, tạo không khí thoáng, xa tầm với của trẻ. Đặc biệt, không để trẻ tự trông lẫn nhau, nhất thiết lúc nào cũng phải có người lớn canh chừng trẻ vì chỉ một phút bất cẩn tai nạn có thể xảy ra.

Bình An

Sặc sữa nhận biết và xử trí

( Ngọc Trang - TP.HCM)

Sữa mẹ là nguồn thức ăn quý giá, là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho bé phát triển và còn là nguồn kháng thể để giúp trẻ chống lại nhiễm trùng trong giai đoạn đầu đời. Vì vậy, việc cho bé đúng cách để tận hưởng nguồn sữa mẹ quý giá trên là vô cùng cần thiết, nhất là một số bà mẹ chưa có kinh nghiệm nuôi con bằng sữa mẹ hay nữ chuẩn bị hay bắt đầu làm mẹ.

Về sặc sữa có thể do nhiều nguyên nhân, như: do lỗ thông đục ở đầu vú cao su to quá, sữa chảy nhanh, mạnh làm trẻ nuốt không kịp; một số trẻ có thói quen vừa ăn vừa ngủ, miệng ngậm vú sữa vẫn chảy nhưng không nuốt; khi thở mạnh, trẻ có thể hít sữa đưa lên mũi vào khí quản, phế quản gây ra sặc; trẻ 3 - 4 tháng tuổi đã bắt đầu biết nói chuyện, nên người vừa cho bú vừa nói chuyện, trẻ mải hóng chuyện, ngậm sữa trong miệng không chịu nuốt, lúc thích chí, trẻ toét miệng cười, sữa tràn vào khí quản gây sặc.

Về triệu chứng để nhận biết, khi đang bú, bé bỗng ho sặc sụa kèm theo tím tái. Đó là tình trạng bé bị sặc sữa, tình trạng này là do sữa tràn vào đường hô hấp, có thể vào khí quản, đôi khi vào tận phế nang làm tắc đường hô hấp, nếu cấp cứu không kịp thời bé sẽ tử vong vì thiếu oxy. Khi gặp tình trạng này, không ai khác chính là người mẹ ra phải cấp cứu một cách khẩn trương, thật bình tĩnh, nhanh chóng làm cho sữa ra khỏi đường hô hấp, nhanh nhất, đơn giản nhất là dùng miệng mình hút mạnh vào miệng và mũi bé, hút càng nhanh, càng mạnh càng tốt, nếu để chậm sữa sẽ vào sâu trong khí quản khó rút ra, trẻ bị tắc thở lâu, khó cứu. Sau khi hút xong kích thích mạnh vào đầu trẻ, để bé khóc và thở được. Sau đó mới khẩn trương đưa trẻ tới bệnh viện để tiếp tục điều trị, tuyệt đối không đưa đi bệnh viện khi trẻ chưa thở lại được, vì não thiếu oxy trong vài phút sẽ không hồi phục, mà chỉ đưa đi bệnh viện khi đã khai thông cho bé thở lại. Về phòng sặc sữa, không nên cho trẻ vừa bú vừa ngủ, không đùa với trẻ khi đang bú. Khi cho bú nên bế trẻ cao đầu, ở tư thế thoải mái, không nên để gập cổ hoặc ngửa cổ quá, vì gập cổ sẽ gây khó nuốt, còn ngửa cổ thì dễ bị sặc sữa lên mũi. Khi trẻ ho hoặc khóc thì phải ngừng cho bú ngay, không để sữa tiếp tục chảy xuống miệng trẻ.

BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG

8 thực phẩm giúp bạn bỏ thuốc lá

Thuốc lá đôi khi là người bạn đồng hành của nam giới. Tuy nhiên, lúc này hay lúc khác họ quyết định từ bỏ vì lý do sức khỏe hay nhiều lý do khác. Nhưng thật khó để bỏ vì không có gì để khỏa lấp trống vắng bằng điếu thuốc lá !!

Nhưng thật sự có nhiều loại thực phẩm là giải pháp tốt giúp bạn bỏ được thuốc lá, miễn sao bạn chọn đúng loại thực phẩm.

8-thuc-pham-giup-ban-bo-thuoc-la

Theo nghiên cứu của Đại học Duke thì một số loại thực phẩm đã ảnh hưởng việc sản xuất nước bọt ở trong miệng cũng như là thay đổi nhận biết mùi của thuốc lá và điều này khiến cho việc hút thuốc lá ít thi vị hơn.

Ngoài ra một số thực phẩm có tác dụng chống stress, giải độc, giảm cảm giác đói. Những điều này như là một phần trong cách cai thuốc lá. Đặc biệt là những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng như vitamin C, vitamin B nhất là vitamin B6, B9, B12 và omega 3.

1. Sữa và các sản phẩm của sữa

Theo nghiên cứu của Đại học Duke thì sữa giúp giảm cơn thèm thuốc lá vì nó để lại hương vị lạ trong miệng và giúp đẩy lùi cảm giác thèm thuốc. Hơn nữa sữa chứa nhiều protein cung cấp năng lượng cho cơ thể. Khi có những cơn thèm thuốc nên ăn sữa chua hoặc một miếng pho mát.

2. Trái cây và rau quả

Theo nghiên cứu của Đại học Buffalo thì trái cây và ra quả giúp bỏ thuốc lá. Nghiên cứu cho thấy rằng những người hút thuốc lá mà ăn nhiều trái cây thì khả năng bỏ thuốc gấp ba lần so với những người muốn bỏ thuốc mà không ăn nhiều trái cây rau quả. Sỡ dĩ như vậy vì trái cây, rau quả làm thay đổi hương vị của nicotin trong miệng và gây cảm giác khó chịu. Hơn nữa trái cây chứa nhiều vitamin, cung cấp cho cơ thể nhiều năng lượng và chất dinh dưỡng giúp cải thiện tâm trạng và điều này khiến cho họ có nghị lực hơn, kiên quyết trong việc bỏ thuốc lá.

3. Chuối

Vấn đề thường gặp nhất ở người muốn bỏ thuốc lá đó là họ cảm thấy thiếu năng lượng đặc biệt lo lắng, căng thẳng do thiếu nicotin. Đây là lý do tại sao bạn nên ăn chuối vì chuối giàu carbohydrate, magiê và vitamin C tăng cường năng lượng và làm dịu cơ thể có dấu hiệu stress.

4. Trái cây màu đỏ

Theo Bác sĩ Alain Tuan Qui, trong số các trái cây giúp bạn bỏ thuốc lá thì hãy nên chọn trái cây màu đỏ vì chứa nhiều chất chống oxy hóa như việt quất, mâm xôi, dâu tây ….

5. Rau xanh

Theo Bác sĩ Alain Tuan Qui khuyên nên chọn những rau có màu xanh đậm như rau bina vì rất giàu vitamin B9 và magie giúp bạn thanh thản tâm hồn khi phải đối mặt với việc cai thuốc !

6. Hạt hướng dương

Các nhà nghiên cứu cho rằng hạt hướng dương có tác dụng tốt cho tâm trí giống như thuốc lá. Hạt hướng dương có tác dụng làm dịu tâm trí vì chứa nhiều vitamin B giúp nuôi dưỡng hệ thần kinh (lưu ý không nên ăn quá nhiều vì trong hạt cũng chứa nhiều chất béo).

7. Đinh hương

Đinh hương không giúp bạn bỏ thuốc lá nhưng giảm được số lượng điếu thuốc hút. Khi bạn hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày, bạn hãy dùng một ít đinh hương, điều này để lại hương vị nicotin trong miệng khoảng vài giờ, nhờ vậy bạn sẽ không cảm thấy thèm để hút điếu thứ hai.

8. Cá béo

Cá béo như cá mòi, cá thu, cá trích hay cá hồi. Theo Alain Tuấn Qui thì trong cá béo giàu omega 3 và phospho giúp bảo vệ hệ thống thần kinh trung ương, điều này cần thiết khi cai thuốc lá.

Bs Ái Thủy

(theo Docteur Bonne Bouffe)

Mẹo đơn giản giúp cải thiện thị lực

Ngày nay, những rối loạn thị lực có xu hướng gia tăng do kết quả của việc tiếp xúc quá nhiều với màn hình máy tính, điện thoại thông minh…Bên cạnh đó rất nhiều yếu tố như gen, thiếu chất dinh dưỡng thiết yếu cũng có thể là thủ phạm gây ra tình trạng này.

Dưới đây là những mẹo đơn giản giúp bạn cải thiện thị lực:

1. Tập thể dục mắt

Tập thể dục mắt là cách đơn giản và hiệu quả nhất để cải thiện thị lực. Bạn có thể thực hiện những bài tập đơn giản bất cứ khi nào và bất cứ đâu. Chúng rất có lợi trong việc kích thích lưu thông máu và giúp các cơ linh hoạt hơn.

Tap-the-duc-cho-mat-giup-cai-thien-thi-luc

2. Hạnh nhân

Hạnh nhân là nguồn đáng kể vitamin E và các chất chống oxy hóa thiết yếu. Ăn hạnh nhân hàng ngày có thể cải thiện thị lực một cách hiệu quả. Chỉ cần ngâm một vài hạt hạnh nhân trong nước qua đêm và ăn chúng vào buổi sáng.

3. Quả amla

Amla là một loại quả có nguồn gốc Ấn Độ, rất giàu vitamin C. Các tác dụng chữa bệnh của nó đặc biệt là tác dụng cải thiện thị lực nổi tiếng khắp thế giới.

4. Thư giãn mắt

Palming là kỹ thuật thư giãn mắt (úp 2 bàn tay vào mắt, lòng bàn tay trái che toàn bộ hốc mắt trái, lòng bàn tay phải che toàn bộ hốc mắt phải, 5 ngón tay trái để chéo 5 ngón tay phải – để chính giữa trán, tay trái để bên trong, tay phải để bên ngoài). Mục đích chính của kỹ thuật này là thúc đẩy sự linh hoạt của thủy tinh thể và các cơ. Kỹ thuật vô hại, không tốn kém và đơn giản này có thể thực hiện hàng ngày để có thị lực tốt hơn.

5. Thì là

Hạt thì là chứa nhiều dưỡng chất thiết yếu giúp cải thiện thị lực một cách tự nhiên. Hơn nữa, sử dụng thường xuyên loại hạt này có thể ngăn ngừa các nhiễm trùng và bảo vệ thị lực.

6. Chế độ ăn uống lành mạnh

Ăn uống lành mạnh là điều bắt buộc để cải thiện thị lực và kiểm soát tình trạng bệnh. Đặc biệt các loại thực phẩm giàu axit béo omega-3 và vitamin E có thể tăng cường đáng kể sức khỏe của mắt.

BS Cẩm Tú/Univadis

(theo Boldsky)

Dấu hiệu cảnh báo sớm ung thư

Có nhiều loại bệnh ung thư, mỗi bệnh lại có những biểu hiện khác nhau. Dấu hiệu cảnh báo sớm cũng phụ thuộc vào bộ phận ung thư. Mặt khác, dấu hiệu ban đầu của ung thư thường không rõ rệt. Nhiều trường hợp bệnh ung thư lại không có dấu hiệu gì hoặc chỉ biểu hiện ở giai đoạn cuối. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể biết một số dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh. Các dấu hiệu từ trên xuống dưới cơ thể, và các biểu hiện toàn thân đó là:

Viêm loét miệng

Bệnh nhân thấy tự nhiên bị viêm loét miệng, lâu lành. Có thể thấy bạch sản là một vùng tổn thương tiền ung thư có thể xảy ra với các kích thích liên tục. Nếu có những vệt trắng cũng như các mảng trắng dày trên lưỡi là những biểu hiện của sự thay đổi trong niêm mạc miệng, có thể dẫn đến ung thư. Nhiều người bị loét miệng do nhiễm virus, vết loét có thể gây đau nhưng sẽ khỏi sau một vài ngày. Trường hợp một vết loét miệng gây đau hoặc không đau nhưng kéo dài từ 3-4 tuần thì cần chú ý bởi có thể là do ung thư trên lưỡi hoặc xung quanh miệng.

Khàn tiếng hoặc giọng ồm

Bình thường giọng nói của bạn trong thanh. Nhưng bắt đầu từ một ngày nào đó, bạn thấy khàn tiếng hoặc giọng nói ồm bất thường kéo dài từ 2-3 tuần thì phải nghĩ đến dấu hiệu cảnh báo ung thư thanh quản. Với kỹ thuật phẫu thuật hiện nay, bác sĩ sẽ loại bỏ sự lan rộng của tế bào ung thư nên giọng nói của bạn vẫn có thể giữ được nếu bệnh được phát hiện sớm.

Khó nuốt

Một số bệnh như đột quỵ, chấn thương não... có thể gây khó nuốt. Tuy nhiên, còn có nguyên nhân khác đó là dấu hiệu sớm của ung thư vùng cổ hoặc vùng đầu, như ung thư dây thanh quản, thực quản, miệng và lưỡi. Ngoài ra, còn có triệu chứng đau bên trong miệng.

Ở một số người có thể bị khó nuốt, nhưng sau đó tự xem xét thấy không đau hay viêm họng gì nên đã bỏ qua nó. Nhưng theo thời gian, dù họ thay đổi món ăn có nhiều chất lỏng hơn nhưng vẫn khó nuốt. Khi đó có thể là dấu hiệu của ung thư đường tiêu hóa, hay gặp nhất là ung thư thực quản, vòm họng hoặc dạ dày.

Ho kéo dài

Nếu bạn bị ho kéo dài và không thuyên giảm, khi đã loại trừ ho do cảm lạnh, cúm và các bệnh dị ứng, bệnh lao phải nghĩ đến dấu hiệu của ung thư. Ho kéo dài được hiểu là ho liên tục hơn 3-4 tuần. Ho như vậy có thể là triệu chứng của bệnh ung thư. Nếu ho kéo dài đồng thời có những biểu hiện kèm theo như đau ngực, ho ra máu... có thể là dấu hiệu ung thư phổi.

Ho kéo dài có thể là một triệu chứng cảnh báo sớm của ung thư.

Bị đầy hơi

Tình trạng đầy hơi thường xảy ra khi bị khó tiêu, giữ nước...Thế nhưng, nếu bạn bị đầy hơi thường xuyên, đầy hơi kèm theo đau bụng hoặc đau vùng xương chậu mà không liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt (ở nữ) thì bạn nên đi khám, bởi đó có thể là dấu hiệu của ung thư buồng trứng. Loại ung thư này rất khó phát hiện ở giai đoạn sớm.

Ợ nóng kéo dài liên tục

Nếu bạn ăn đồ ăn nhiều chất béo hoặc đồ cay mà bị đau hoặc khó chịu sau khi ăn là bình thường. Nhưng nếu những triệu chứng này kéo dài nhiều hơn 2-3 tuần và bạn phải dùng thuốc kháng axit thường xuyên, thì nó có thể là dấu hiệu của ung thư dạ dày hoặc ung thư thực quản, ung thư tuyến tụy...

Đi tiểu nhiều

Ở đàn ông có tuổi, tuyến tiền liệt sẽ bị phì đại, bị xơ hóa điều này có thể dẫn tới đi tiểu nhiều, nhất là vào ban đêm. Nhưng nếu bạn đi tiểu nhiều lần trong vài giờ, hoặc gặp khó khăn khi đi tiểu, có thể bạn đang mắc ung thư tuyến tiền liệt.

Phân nát lỏng

Bất kỳ sự thay đổi đột ngột trong thói quen đi vệ sinh, bao gồm táo bón, phân lỏng hơn so với thông thường hay đau có cảm giác lạ kéo dài hoặc đau âm ỉ thì cần được kiểm tra. Đó có thể ám hiệu của ung thư ruột hoặc trong trường hợp hiếm hơn là ung thư buồng trứng hoặc tuyến tụy.

Ra máu sau mãn kinh

Trong giai đoạn mãn kinh, nếu bạn bị chảy máu sau thời kỳ mãn kinh thì cần phải đi khám ngay, vì đây có thể là dấu hiệu sớm của bệnh ung thư nội mạc tử cung.

Gầy sút nhanh, mệt mỏi vô cớ

Bạn thấy gầy sút nhanh, có thể giảm hơn 10% trọng lượng cơ thể của mình trong khoảng 3 tháng thì đó có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư. Dấu hiệu giảm cân xảy ra ở hầu hết các bệnh ung thư như ung thư tuyến tụy, dạ dày, thực quản, ung thư đại tràng hoặc ung thư phổi. Bên cạnh đó, dấu hiệu mệt mỏi cũng là cảnh báo của bệnh ung thư mà chúng ta dễ bỏ qua. Sự mệt mỏi do ung thư rất vô cớ và thường khác với sự mệt mỏi do làm việc vất vả. Mệt mỏi do ung thư rất bải hoải và người bệnh không cảm thấy đỡ dù đã nghỉ ngơi. Dấu hiệu này thường thấy ở ung thư máu, ung thư ruột kết, ung thư dạ dày...

Hay bị cảm cúm

Nếu bạn hay bị sốt không rõ nguyên nhân, có thể do ung thư. Các nhà khoa học lý giải: đó là do ung thư có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, làm cho cơ thể không có sức đề kháng với các viêm nhiễm gây cúm, sốt. Đa số các bệnh ung thư sẽ gây sốt tại một số thời điểm. Sốt thường xảy ra sau khi ung thư đã lan từ vị trí ban đầu của nó và di căn đến phần khác của cơ thể. Sốt cũng có thể do bệnh ung thư máu như u lympho hoặc bệnh bạch cầu, ung thư hạch.

Thay đổi ở da

Một ngày nào đo bạn thấy nốt ruồi quen thuộc của bạn to lên đáng kể thì đó là dấu hiệu đáng ngờ của ung thư nốt ruồi. Các sự thay đổi về cấu trúc của da, mụn cóc, nốt ruồi hoặc đốm sắc tố đều có thể là những dấu hiệu của ung thư da. Các khối u ác tính là một dạng phổ biến của ung thư da và có biểu hiện giống như những đốm trên da, thường có màu sắc, kích thước, hình dáng không bình thường.

Đau

Ở những người cao tuổi, thường bị mệt mỏi và đau mình mẩy. Nhưng cảm giác đau mơ hồ, có thể là một triệu chứng sớm của một số bệnh ung thư. Nếu bạn bị đau đầu không làm cách nào dứt được dù đã uống thuốc giảm đau có thể là dấu hiệu của khối u ác tính ở não. Nếu đau ở lưng là dấu hiệu của ung thư ruột kết hoặc ung thư buồng trứng. Các bệnh ung thư xương, ung thư dương vật cũng gây đau nhiều.

Chảy máu bất thường

Trường hợp bạn bắt đầu ho ra máu, khạc nhổ ra máu, có máu trong phân hoặc trong nước tiểu, thì bạn nên đi khám bệnh ngay. Bởi ho ra máu là dấu hiệu của ung thư phổi (sau khi đã loại trừ bệnh lao). Thấy máu trong phân là dấu hiệu của ung thư ruột kết. Đi tiểu ra máu, là cảnh báo sớm của ung thư thận hoặc ung thư bàng quang. Chảy máu núm vú báo động ung thư vú.

Viêm sưng hạch

Tình cờ bạn phát hiện được một khối u hoặc sưng ở các hạch trong nách hay ở cổ hoặc ở bất cứ nơi nào khác thì cần phải lưu ý vì đó có thể là dấu hiệu của ung thư máu và bạch huyết.

Sờ thấy khối u

Có một số ung thư cảm nhận được qua da. Đó là ung thư vú, ung thư dương vật, ung thư hạch và ung thư gan, tụy. Tuy có vài dạng khác của ung thư vú không xuất hiện u, cục nhưng da cứ mẩn đỏ, dầy lên.

Vết loét không lành

Có những dấu hiệu khác của ung thư da đó là những khối u nhỏ trên da sẽ lớn dần lên, trên đó là những vết loét không thể lành từ 2-4 tuần. Những khối u hoặc các vết loét này thường không đau nhưng có thể gây chảy máu hoặc ngứa.

Đổ mồ hôi ban đêm

Nếu bạn bị đổ nhiều mồ hôi vào ban đêm có thể là một dấu hiệu của bệnh ung thư tế bào lympho, một khối u đang phát triển trong tế bào bạch huyết. Những người mắc ung thư thế bào lympho có sự trao đổi chất trong cơ thể lớn do các tế bào lympho sử dụng rất nhiều năng lượng. Vì vậy, họ thường đổ rất nhiều mồ hôi vào ban đêm, kèm theo là một khối u có đường kính từ 2cm trở lên ở cổ, nách hoặc háng thì cần nghĩ đến ung thư.

ThS.Mai Đức Trung

Cách đúng xử trí sốt virut ở trẻ em

Sốt virut là bệnh gặp chủ yếu trong mùa hè ở trẻ, bệnh rất dễ lây qua đường hô hấp với triệu chứng điển hình là trẻ đột ngột sốt cao 39 - 40 độ C, kèm theo các triệu chứng khác như ho, chảy mũi, rối loạn tiêu hóa, nổi ban...

Triệu chứng

Biểu hiện thường gặp ở những trường hợp sốt do virut là trẻ thường sốt cao từ 38-39oC, thậm chí 40-41oC. Trong cơn sốt trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường. Khi hạ sốt trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường; đau mình mẩy: ở trẻ lớn thì đau cơ bắp, trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc; đau đầu: một số trường hợp trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, Nếu nguyên nhân gây sốt do virut đường tiêu hóa thì trẻ bị rối loạn tiêu hoá, đi ngoài, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, không có máu, chất nhày. Ban đỏ thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt.

Diễn biến của sốt virut

Cơ thể trẻ em do chưa có sức đề kháng cao nên rất dễ bị nhiễm bệnh, trong những ngày hè, nhiều trẻ phải nhập viện do sốt virut là hiện tượng rất hay gặp tại khoa nhi các bệnh viện. Trong điều kiện bình thường cũng có những virut ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa... khi gặp điều kiện thuận lợi chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh.

Một số loại virut thường gây sốt như: Myxo virut, Coxackie, Entero virut, sởi, ... Virut có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là nhiễm virut qua đường hô hấp, tiêu hóa... có thể gây thành dịch. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virut là sốt cao. Trong thuật ngữ y học thường gọi là sốt virut. Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ, sau 3-5 ngày sẽ giảm dần và mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh.

Xử trí và phòng ngừa sốt do virut ở trẻ

Đối với các bệnh do virut gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị chứng, đối với sốt virut ở trẻ em cũng vậy. Do đó các biện pháp thường áp dụng là:

- Cặp nhiệt độ: Đặt nhiệt kế ở nách hoặc hậu môn. Nhiệt kế phải được giữ trong nách ít nhất 3 phút, cánh tay của trẻ áp sát vào ngực. Nhiệt độ của trẻ sẽ là số ghi trên nhiệt kế cộng thêm 0,3 - 0,4 độ. Thí dụ nhiệt kế ghi 38oC thì thân nhiệt thực sự của trẻ là 38,4oC.

Hạ sốt: Thường dùng paracetamol liều 10mg/kg, 6 giờ/1 lần.

Chườm mát cho trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng. Cởi quần áo, bỏ bớt chăn cho trẻ khi đang sốt cao.

Lau bằng khăn ướt nước ấm: Dùng khăn mềm, sạch, nhúng nước ấm (1 cốc nước sôi + 3-3,5 cốc nước nguội) lau lên khắp mình trẻ; cho tới khi thân nhiệt xuống 37oC. Tuyệt đối không được chườm nước lạnh vì sẽ gây sốt cao thêm do cơ chế co mạch ngoại vi.

Chống co giật: Nếu trẻ sốt cao trên 38,5oC thì dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao.

Bù nước và điện giải: Nếu trẻ còn bú tiếp tục cho bú nhiều hơn bình thường, và cho uống bù nước ORS (Oresol) theo chỉ dẫn. Trường hợp trẻ không uống được thì dùng bông sạch chấm nước trên vào môi, miệng bé liên tục để niêm mạc môi, miệng hấp thu nước, tránh thiếu nước và chất điện giải.

Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.

Dinh dưỡng: Cần chú ý tới chế độ dinh dưỡng, nên cho trẻ ăn loãng như cháo, súp, uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả như cam, chanh...

Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín.

Chú ý: Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: khi trẻ sốt cao trên 38,5oC, đặc biệt là trên 39oC mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng. Lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục và tăng dần, buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.

Sốt virut là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và trường học. Do đó, người bị sốt virut nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Khi trẻ bị sốt virut cần cho trẻ nghỉ học đến khi khỏi hẳn để tránh lây cho trẻ khác. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C để nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Ths Lê Hưng

Cần làm gì khi bé sốt cao?

Sốt là một triệu chứng thường gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi, nhất là vào mùa hè cơ thể của trẻ chưa đáp ứng được sự điều tiết của nhiệt độ bên ngoài do hệ thần kinh và hệ nội tiết của trẻ em chưa hoàn thiện. Sốt gây nhiều tác hại cho cơ thể trẻ, có thể gây co giật, thậm chí tử vong, vì vậy các bậc cha mẹ cần phát hiện và có những biện pháp xử lý đúng, kịp thời khi trẻ sốt.

Sốt là hiện tượng tăng thân nhiệt trên 37,50C. Khi nhiệt độ từ 37,5 - 38,50C là sốt nhẹ; từ 38,5 - 390C là sốt vừa; 39 - 400C là sốt cao; >400C là sốt rất cao.

Sốt có thể do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng phần lớn là do vi khuẩn, virut. Do cơ thể của trẻ chưa thích nghi ngay với môi trường tự nhiên nên khi nhiệt độ thay đổi, thời tiết nóng bức, trẻ thường ra nhiều mồ hôi dẫn đến cơ thể dễ bị mất nước. Nếu lượng nước bù vào không đủ thì trẻ dễ bị sốt và khi sốt cao dẫn đến tình trạng co giật, thiếu máu não hoặc tổn thương các tế bào thần kinh dẫn tới hôn mê hoặc tử vong. Nếu khỏi sau này hay để lại di chứng tổn thương thần kinh (động kinh, giảm trí nhớ). Sốt cao làm mất nước, cô đặc máu, gây rối loạn nước và điện giải, rối loạn huyết động, nhiễm toan chuyển hóa. Sốt cao từ 40-410C có thể gây rối loạn đông máu, làm giảm các yếu tố đông máu.

Thời tiết mùa hè là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển nhanh và xâm nhập cơ thể trẻ gây viêm qua da và xâm nhập vào hệ tiêu hóa của trẻ gây ra các bệnh về đường tiêu hóa. Khi bị tiêu chảy, trẻ vừa mất nước, vừa mất điện giải (clo, natri, kali...) và nếu bị nặng trẻ dễ bị sốc, bị trụy mạch và có thể dẫn đến tử vong.

Có thể dùng khăn lau mát hạ sốt cho bé bằng nước ấm, tránh dùng nước quá lạnh hay quá nóng.

Xử lý đúng cách và kịp thời khi trẻ sốt

Khi trẻ bị sốt, trước hết các bậc cha mẹ cần giúp trẻ tăng cường sự thải nhiệt của cơ thể như cởi bớt quần áo, giảm nhiệt độ trong phòng nếu quá nóng bằng cách mở cửa thông thoáng, sử dụng quạt thông gió. Cho trẻ uống nhiều nước. Trẻ lớn có thể uống tùy thích, trẻ nhỏ chưa biết đòi phải chủ động cho trẻ uống thêm hoặc pha thêm nước vào lượng sữa, tăng các bữa bú cho trẻ. Có thể cho trẻ uống nước hoa quả như nước chanh, nước cam, nước oresol...

Để tăng thải nhiệt có thể đắp khăn mát vùng trán và bẹn cho trẻ. Dùng khăn ấm lau khắp người trẻ. Nước ấm sẽ bốc hơi, làm giãn mạch máu làm trẻ mát.

Mùa hè khi trẻ sốt vẫn cần được tắm rửa, gội cả đầu bằng nước ấm có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể trẻ 3-40C trong vòng 10-15 phút.

Khi trẻ sốt trên 38,5oC cần cho trẻ dùng các thuốc hạ nhiệt. Tổ chức Y tế Thế giới khuyên nên dùng cho trẻ em thuốc paracetamol đơn chất dạng gói hay sirô... vì đây là thuốc hạ sốt dễ sử dụng, hiệu quả hạ sốt nhanh, thường sẽ có tác dụng hạ sốt 30 phút sau khi sử dụng và kéo dài từ 4 - 6 giờ, ít tác dụng phụ. Cần cho trẻ uống đúng liều theo chỉ định là 10 - 15mg/kg/lần, lặp lại sau 4 giờ nếu trẻ còn sốt, thường dùng 3 - 4 lần/ngày, tổng liều tối đa không quá 60mg/kg/ngày. Có thể dùng đường uống hoặc hậu môn nếu trẻ không uống được nhưng hấp thu qua đường hậu môn thường chậm hơn.

Tuy nhiên khi trẻ bị sốt, ngoài dùng thuốc hạ sốt và các biện pháp hạ nhiệt như trên các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đến bệnh viện để được các thầy thuốc chuyên khoa phát hiện sớm nguyên nhân sốt và xử trí kịp thời, không nên tự ý mua thuốc về điều trị.

ThS. Khiếu Thị Nhung

Những thói quen sống giúp phòng ngừa sa sút trí tuệ

Sa sút trí tuệ là một rối loạn của não bộ làm suy giảm chức năng trí nhớ và nhận thức Người bị sa sút trí tuệ gặp khó khăn trong ghi nhớ, học tập và giao tiếp. Alzheimer là dạng phổ biến nhất của sa sút trí tuệ.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng những người trên 50 tuổi có thể giảm đáng kể nguy cơ sa sút trí tuệ với 5 thói quen sống dưới đây:

Có đời sống tình dục tích cực

Một nghiên cứu được công bố trên tờ Age and Ageing chỉ ra rằng những người trên 50 tuổi có đời sống tình dục tích cực có chức năng nhận thức tốt hơn do giải phóng các hormon như oxytocin và dopamin trong quá trình giao hợp. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu cũng quan sát thấy nam giới hoạt động tình dục tích cực có điểm số cao hơn 23% trong các bài kiểm tra về ngôn từ và 3% khi trả lời câu đố.

Giảm căng thẳng và lo âu

Theo nghiên cứu trên tờ Current Opinion in Psychiatry, lo âu và căng thẳng kéo dài có liên quan tới thoái hóa cấu trúc và suy giảm chức năng nhận thức, điều này có thể làm tăng nguy cơ bị các rối loạn tâm thần kinh, bao gồm sa sút trí tuệ và trầm cảm.

Univadis_1.4.2016_thoi-quen-song-phong-ngua_-sa-sut-tri_-tue

Tăng cường hấp thu vitamin C

Các nhà nghiên cứu thấy rằng những người bị sa sút trí tuệ có lượng vitamin C thấp hơn so với những người không bị sa sút trí tuệ hoặc Alzheime. Bằng cách bổ sung những loại thực phẩm như nước chanh, amlas, hoa quả và các nguồn vitamin C khác, bạn có thể phòng ngừa được rối loạn này.

Bổ sung vitamin D

Lượng thấp vitamin D, đặc biệt khi có tuổi, có thể làm tăng nguy cơ bị sa sút trí tuệ hoặc Alzheimer. Nghiên cứu này gồm khoảng 1658 người trên 65 tuổi được xét nghiệm vitamin D. Khoảng 7 năm sau, người ta thấy rằng những người có lượng vitamin D thấp tăng 53% nguy cơ bị sa sút trí tuệ.

Kiểm soát đường huyết

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng kiểm soát đường huyết và kiểm soát bệnh tiểu đường có thể giúp phòng ngừa sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer. Bệnh nhân tiểu đường tăng 50% nguy cơ bị chẩn đoán sa sút trí tuệ.

BS Cẩm Tú/Univadis

(theo THS)

Siêu thực phẩm cho người ăn kiêng vào năm 2016

Nếu như tỏi, gia vị, trà xanh, cải xoăn là những siêu thực phẩm của năm 2015 thì năm 2016 này, bạn hãy bổ sung ngay các siêu thực phẩm dưới đây:

1. Tảo bẹ

Tảo bẹ được tìm thấy ở dưới đáy đại dương vốn là một loại rong biển. Bạn nên ăn tảo bẹ hàng tuần bởi thực phẩm này rất giàu canxi và chất sắt, giúp xương và răng luôn chắc khỏe. Tảo bẹ còn rất tốt trong việc chống lão hóa và giúp bạn trẻ đẹp hơn.

2. Canh xương

Nếu bạn đang bị rối loạn máu và đau khớp thì nên ăn canh xương. Một chén nước dùng xương chứa hàm lượng cao protein, magiê, kali và canxi giúp tăng cường hệ miễn dịch và bảo vệ mái tóc của bạn. Hãy ăn canh xương nhiều hơn trong năm 2016 này nhé.

3. Thực phẩm lên men

Thực phẩm lên men cần được thêm vào danh sách siêu thực phẩm. Các loại thực phẩm lên men như nấm kefir là tốt nhất, chúng giúp hỗ trợ tất cả các vấn đề tiêu hóa, tăng cường sản xuất lợi khuẩn cho đường tiêu hóa, bảo vệ dạ dày khỏi sự tấn công của các yếu tố gây hại.

4. Hạt lanh

Bạn có biết rằng bạn nên tiêu thụ hạt lanh 3 lần/tuần nếu muốn có một thân hình thon gọn quyến rũ và tránh xa bệnh tim? Đây được xem là một thực phẩm tốt nhất chứa hàm lượng lớn các a-xít béo omega và lignans.

5. Cây gai dầu

Gai dầu chứa các a-xít béo omega-3 và chất xơ, giúp các tế bào chống lại độc tố, giúp bạn bảo vệ sức khỏe và tránh xa bệnh tật.

6. Sả

Không chỉ là thứ gia vị có hương thơm nồng nàn hấp dẫn, sả còn có nhiều công dụng với sức khỏe, trong đó có giảm lượng cholesterol và điều hòa huyết áp.

7. Ca cao

Ca cao là một trong những siêu thực phẩm tốt nhất mà bạn nên thêm vào chế độ ăn uống hàng ngày. Ca cao tốt cho tim và cải thiện lưu thông máu trong cơ thể, do đó ngăn ngừa đột quỵ và đau tim.

8. Vỏ cam quýt

Vỏ cam quýt cũng là một siêu thực phẩm nên thêm vào chế độ dinh dưỡng. Vỏ cam quýt không chỉ chứa vitamin C mà còn chứa canxi giúp cải thiện kết cấu da, săn chắc và khỏe mạnh, ngăn ngừa các dấu hiệu lão hóa.

9. Trà xanh

Trà xanh có lợi cho sức khỏe và sắc đẹp của bạn như: chống lão hóa, ngừa ung thư, giảm cân... Do đó, hãy uống 1-2 tách trà xanh mỗi ngày để tận thu những lơi ích tuyệt vời từ chúng nhé.

An An (Boldsky)

(Ảnh minh họa: Internet)

Tư vấn truyền hình trực tiếp “Bảo vệ bé khỏe mạnh trong mùa đông xuân”

Mời các bạn theo dõi buổi tư vấn truyền hình trực tiếp Trong thời tiết lạnh ẩm, cả người lớn và trẻ đều dễ mắc các bệnh đường hô hấp, nhưng ...